Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2021

Nhân Luận (2)

Nhân Luận (2) Một nét là dương , một nét là âm Một nét là thịnh , một nét là suy Một nét là nam , một nét là nữ Một nét là đỉnh cao, một nét là vực sâu Một nét là ngày , một nét là đêm Một nét là thanh xuân , một nét là già lão Một nét là giàu một nét là nghèo Một nét là kiêu ngạo, một nét là khiêm cung Một nét là chân ái, một nét là hận thù Một nét là hạnh phúc , một nét là khổ hải Một nét là sinh, một nét là diệt . Một nét là thành , một nét là bại Một nét là trước , một nét là sau Một nét là mạnh khoẻ, một nét là ốm đau Hai nét là một đời người , hai nét như một cặp vợ chồng vui buồn sướng khổ có nhau , thành công hay bại trận cùng nhau ,sống cùng chết cùng nhau, chung thuỷ keo sơn, sống có trước có sau, trước sau như một đó là đạo làm người . Khi vinh không hống hách , khi nghèo không nhục hèn , khi giàu sang , khi đói kém cũng đối xử tương kính như tân đó là người và vậy mới là cuộc sống . Tiên hay Phật khi viết đều có chữ Nhân , họ chỉ là nhân ở đẳng cấp cao hơn vì một người là giác ngộ còn một người là vô vi . Làm người thì khó , làm chó lại dễ ..

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

Giai đoạn Cuộc tình











Mùa riêng...

Có người ví tình yêu như mùa Xuân
Cơn mưa bụi khẽ khàng chạm nụ hoa mới nở
Như cơn mưa tình nhân buổi đầu tiên… một thưở
Đêm rụt rè ve vuốt mảnh trăng son…

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

Hồng Trần Luận

Nhất định phải nhìn thấu hồng trần rồi sau mới có thể học Phật” hay không ? Đây là vấn đề tự hồ như đúng mà lại sau. Hai chữ “Hồng Trần” thực ra không phải là danh từ Phật học, mà xuất xứ từ kho từ vựng văn học Trung Quốc. Nó có ý nghĩa cảnh bụi đất tung bay hoặc là cảnh tượng sinh hoạt phồn hoa. Bài phú Tây Đô của Ban Cố đời Tây Hán có câu : “Nghẽn thành đầy quách, rẽ ra trăm chợ, hồng trần bốn phía, khói mây nối liền” (điền thành dật quách, bàng lưu bách triền, hồng trần tứ hợp, yên vân tường liên). Đây là hình dung Tây đô Trường An người nhiều, việc nhiều, tiền nhiều, hào hoa náo nhiệt. Trong bài thơ “Trường Anh cổ ý” của Lư Chiếu Lân có câu : “Liễu yếu hòe xanh buông quệt đất, Hồng trần tiết đẹp bốc mù trời” (nhược liễu thanh hòe phất địa thùy, giai kỳ hồng trần ám thiên khởi). Trong bài thơ “Thu Nguyệt” (Trăng Thu) của Trình Hiệu đời Tống có câu : “Cách hẳn hồng trần ba mươi dặm, mây trắng lá hồng đều vời vợi !” (Cách đoạn hồng trần tam thập lý, bạch vân hồng điệp lưỡi du du). Trong hồi thứ nhất truyện Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần cũng nói : “Có thành quanh cửa trời, chính giữa chốn hồng trần, là đất phú quý phong lưu hạng nhất, nhì” (Hữu thành hồi xương môn, tối thị hồng trần trung, nhất nhị đằng phú quý phong lưu chi địa). Đủ thấy hai chữ hồng trần đều là chỉ cảnh tượng phồn hoa phú quý nhân gian, quan trường, thế tục. Câu “Nhìn thấu hồng trần”, cũng chẳng phải là câu nhà Phật sử dụng mà là từ vựng được thường xuyên sử dụng bởi các nhà văn học từ xưa đến nay ở Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng tự nhiên vô vi của Đạo gia và bởi các kẻ sĩ ẩn dật và chán ngán cuộc sống phú quý hư huyễn nơi quan trường, hướng về cuộc sống điền viên nơi rừng núi. Cho nên “nhìn thấu hồng trần” chính là từ cuộc sống phồn hoa khác nào mây khói lui về sống ẩn dật trong hoàn cảnh sinh hoạt tự do, chất phát, giản dị, tại nơi đồng quê rừng núi. Phật giáo ở Trung Quốc luôn luôn bị hiểu lầm, Nói chung người ta thường đem phong khí và hiện tượng trốn tránh hiện thực, ẩn dật ở núi rừng qui cho tín ngưỡng Phật giáo và kết quả học Phật. Kỳ thực trong Phật pháp không nói tới “hồng trần”, cũng không nói tới chuyện “nhìn thấu hồng trần” mà chỉ nói tới sáu trần là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp đối đãi với Sáu căn : Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý. Sáu trần là ngoại cảnh, sáu căn là nội cảnh, phải thêm vào sáu thức của Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý mới có thể sản sinh ra được hiện tượng thân Tâm. Tâm bị ngoại cảnh lay chuyển, cũng tức là bị sáu trần tác động, dùng sáu căn mà tạo ra các hành vi thiện ác tốt xấu. Phật pháp gọi đó là tạo nghiệp. Có thể tạo nghiệp ác, cũng có thể tạo nghiệp thiện. Tạo nghiệp ác thì đọa xuống ba đường ác : địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Tạo nghiệp thiện thì lại được sinh làm người hoặc được sinh lên cõi trời, hưởng thụ phúc báo của Người, của Trời. Thế nhưng bất kể là bị đọa xuống hay được sinh lên, cũng vẫn đều là trong biển khổ luân hồi sinh tử của thế gian. Muốn giải thoát thì phải nhận thức được sáu trần là hư huyễn, chẳng thực, hay biến đổi. Kinh Kim Cương hình dung nó như mộng, như huyễn, như bọt, như bóng. Triệt để giác ngộ được tính chất hư huyễn chẳng thực của thế giới sáu trần thì sẽ được giải thoát tự tại. Nếu thân tâm ở cõi thế gian sáu trần mà không bị sáu trần quấy nhiễu, dụ dỗ, mê hoặc thì sẽ chẳng sinh ra phiền não và được gọi là người giải thoát. Đủ thấy : Phật Pháp gọi sáu trần là chỉ hoàn cảnh mà thân tâm đang ở. Cuộc sống phú quý phồn hoa cố nhiên là thuộc về sáu trần nhưng cuộc sống tự nhiên ẩn dật cũng vẫn chưa lìa được sáu trần vì thế Thiền tông có câu : “Bậc đại ẩn ẩn ở chợ búa, kẻ tiểu ẩn ẩn ở núi rừng” (đại ẩn ư thị trần, tiểu ẩn ư sơn lâm). Đây chính là nói : Nếu tâm vẫn còn có điều chấp trước, thân vẫn còn có sự trói buộc thì bất kể là sống trong hoàn cảnh nào cũng đều chẳng được tự tại. Gió to, mưa lớn, muông dữ, chim hung, trùng độc ở nơi sơn dã hoặc các thứ mà người ta thường gọi là non cùng, nước độc, vợ ác, dân điêu đều sẽ gây ra cho bạn phiền não. Còn nếu như tâm không vướng mắc thì ở chốn cung vua, lầu đẹp và nơi hang động lều tranh cũng đều như nhau cả, cần gì phải phân biệt. Người ta thường nói : “Nhìn thấy hồng trần” tức là cắt tóc làm Tăng, đó có thể là những kẻ thất bại trên đường quan trường sự nghiệp thất bại, hôn nhân ly tán, gia đình tan nát, không còn lòng tin và dũng khí nữa, trong bước đường cùng, đã ngã lòng nản chí bèn tới cửa Phật để tìm một con đường sống tạm qua ngày, gọi là bạn với khánh xanh mõ đỏ cho hết cuộc đời tàn. Cảnh tượng này là vô cùng tiêu cực, bi quan thậm chí còn là bi thảm ! Trong cửa Phật đúng là có hạng người đó. Nhưng đó tuyệt đối chẳng phải là con đường thông thường, con đường đúng đắn của những người học Phật tiến vào cửa Phật. Tiến vào cửa Phật, trở thành tín đồ Phật giáo thực ra không có nghĩa là cứ phải xuất gia. Tín đồ Phật giáo chia làm hai loại lớn : tại gia và xuất gia, xuất gia chỉ là số ít, tại gia mới là số nhiều trong tín đồ Phật giáo. Xuất gia là đem toàn bộ sinh mệnh gửi gấm vào, có nghĩa là đem thân tâm này cúng dâng Tam Bảo và thí cho chúng sinh là để độ sinh. Cúng dân Tam Bảo là để hoằng dương Phật pháp tiếp nối trí tuệ của Phật. Bố thí cho chúng sinh thì có thể nhiếp hóa, cứu giúp chúng sinh trong biển khổ. Có thể xả được điều khó xả, nhẫn được điều khó nhẫn, đó mới thực là mục đích đúng đắn của xuất gia. Xả được điều khó xả là vứt bỏ danh lợi, vật dục; nhẫn được điều khó nhẫn là gánh vác sự nghiệp của Như Lai và khổ nạn của chúng sinh. Cho nên cái gọi là “nhìn thấu hồng trần” thật ra không có quan hệ gì với tôn chỉ xuất gia. Còn những người xuất gia học Phật có thể bao gồm tất cả mọi tầng lớp xã hội, họ tuyệt nhiên chẳng phải là để trốn tránh hiện thực mà chính là để hòa với mọi người là đưa lại thanh tịnh cho mọi người, cũng tức là Phật hóa mọi người. Nếu sau khi học Phật mà lại lìa khỏi mọi người, lìa đàn ở lẽ, thế là làm trái với tôn chỉ Phật hóa mọi người. Người tại gia học Phật, theo nguyên tắc sinh hoạt năm giới, mười điều lành, đối với gia đình, xã hội, đất nước đều phải làm hết trách nhiệm, làm hết bổn phận của mình. Bởi vậy, người xuất gia sau khi học Phật sẽ càng tích cực hơn đối với cuộc sống và đối với trách nhiệm của mình. Đó cũng chính là nguyên nhân khiến Phật Giáo Đại Thừa phân chia hình tượng của Bồ Tát ra làm hai loại xuất gia và tại gia. Bồ Tát tại gia là tướng trời người phúc đức trang nghiêm. Noi theo ý nguyện của “nhìn thấu hồng trần” thì là tiêu cực, còn học Phật lại là tích cực. Chúng ta có thể chia hình thái sinh hoạt và tâm thái sinh hoạt của loài người ra làm ba loại : Loại thứ nhất chiếm đa số tuyệt đối là thuộc loại luyến thế, đối với bất cứ sự vật gì cũng đều không buông bỏ được : tranh danh đoạt lợi, ăn uống trai gái, đắm say trong cuộc sống, khổ não suốt đời mà chẳng biết sinh từ đâu tới, chết sẽ đi đâu ? Lúc đáng sống thì khư khư chẳng buông tha, lúc sắp chết thì bịn rịn bỏ chẳng được, cho nên Phật gọi họ là những kẻ đáng xót thương. Loại thứ hai là loại người yếm thế. Họ hoặc là giận đời, ghét tục, hoặc tiếc rẽ có tài mà không gặp vận may; hoặc là tiêu cực, bi quan, đối với sinh mệnh giữ một thái độ cam chịu chẳng biết xoay sở ra sao. Vì thế, hạng người trước sẽ biến thành những người diễu cợt cuộc đời, hoặc rút lui khỏi vũ đài xã hội mà sống cuộc sống ẩn dật; hạng người sau nếu chẳng tự sát mà chết thì cũng trốn tránh hiện thực, uất ức mà chết. Loại thứ ba là thuộc về loại người buông được ra, nhấc được lên. Họ nhìn thấy con người đau khổ, thế sự hiểm nguy, đem hoài bảo xót trời thương người ra mà cứu vớt chúng sinh thế gian ở trong vòng nước sôi lửa bỏng, dù cho phải vượt núi băng ngàn thậm chí là khuôn mẫu của những bậc được người đời sau được gọi là hiền giả và thánh nhân. Theo quan điểm của Phật giáo thì loại người thứ nhất có căn tính phàm phu; loại người thứ hai giống như người có căn tính tiểu thừa; loại người thứ ba giống như có căn tính đại thừa. Song nếu dùng Phật pháp mà hóa đạo thì loại người thứ nhất dẫu là phàm phu, cũng có thể dần dần tiếp tu được trí tuệ, hiểu thấu hiện tượng thế gian, mọi người giảm bớt phiền não cho mọi người, giảm bớt tai họa cho xã hội. Loại thứ hai căn tính tiểu thừa thì chỉ ít không biết giận đời ghét tục, hoặc giả nghĩ quẫn tự sát, còn thì sẽ tích cực tu hành, sớm cầu thoát ra khỏi biển khổ sinh tử, hơn nữa cũng có thể vì mọi người nêu điển hình và tấm gương về tự mình phấn đấu nỗ lực, tự mình cứu mình. Loại thứ ba căn tính đại thừa thì có thể nhờ sự hóa đạo của Phật pháp mà có một sinh mệnh vô hạn, một lời nguyện từ bi vô hạn, đời đời kiếp kiếp phát tâm bồ đề, tu hành đạo Bồ Tát, Phật hóa nhân gian, thành đạt tới nước Tịnh độ của Phật (không chỉ độ người mà còn độ cho hết thảy mọi chúng sinh). Họ sẽ không vì trở ngại mà thất vọng, cũng không vì thuận lợi mà cuồng nhiệt, luôn luôn nỗ lực xúc thành nhân duyên, lẳng lặng cày bừa, thành công không hẳn tại ta, nhưng vẫn cứ tinh tiến mãi mãi không lười. Thái độ học Phật như vậy đương nhiên không có dính dáng gì với quan niệm “Nhìn thấu hồng trần

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Hoathuong_Một giấc mơ si tình

Bùi Sim Sim một nhà thơ nữ tôi từng thích đến ngây người đã từng viết:

Ai nỡ trách tình yêu dâng tặng cho mình
Ai nỡ vô tình trước ánh nhìn nồng nàn tha thiết
Một trái tim đang mê say cuồng nhiệt
Ai nỡ đuổi xua, ai nỡ chối từ ! ?

Anh và em như sông đôi bờ
Có từ đâu, đi về đâu, ai biết
Rất gần cũng rất xa bởi lòng sông cách biệt
Ai nỡ trách nắng mưa, ai nỡ trách tình yêu
Nhưng xin đừng !... ơi đôi mắt phiêu diêu !


Vâng ai nỡ trách khi tôi đang yêu hoathuongsitinh ..một mối tình chả biết ngấm vào người tự bao giờ .Nói xin lỗi tình yêu là mù quáng tôi xé toạt hết những tập thơ tôi từng nắn nót chép từ thơ của Chị Bùi Sim Sim đến chị Xuân Quỳnh bây giờ trong lap của tôi chỉ toàn thơ của hoathuongsitinh.

Hoathuongsitinh sinh ngày 04/04 tại Cà Mau một ngày sinh rất đẹp , ( Các bạn có quyền nói tôi vô duyên nhưng khi yêu thì yêu cả đường đi lối về chứ quản gì tới ngày sinh hay chiếc tất.)
Tôi như đi lạc vào cõi say đắm của tâm hồn người con gái. Rất sâu lắng và dịu dàng, nhiều mong ước và suy tư. Nhưng trên hết có thể thấy đây là những cảm xúc rất thật..những tiếng nói cất lên từ tận trái tim cháy bỏng khát khao. Có lẽ nào hoathuongsitinh là một Xuân Quỳnh thứ 2 của thi ca Việt Nam..Không hiểu tôi sao lại có liên tưởng như thể ư?

Ngay cả sánh nàng với Xuân Quỳnh tôi vẫn thiên vị và nghiêng về nàng thật đơn giản khi yêu thì củ ấu nó cũng phải tròn dưới con mắt của tôi chứ huống chi là thơ của nàng .Nàng đẹp đến tẩn mẩn tê mê .. cả người ngọc trong gió ánh mắt như biết nói chất chứa sự nồng nàng dịu vợi ..sự đa tình toát lên như tự nhiên vốn nàng đã thế.!!!

Với hoathuongsi tình thì thơ không chỉ là gợi sóng tâm hồn nữa, nó không còn là bão, là giông với cuộc sống. Mà nó để cuộc đời lặng lẽ, bình yên trôi theo thời gian. Mọi ngày như nhau, mọi giờ như nhau, mọi phút như nhau, nhàn nhã đến chán nản và vô vị thôi sao??..nó lung linh theo tiếng nhạc dance rộn rả dưới ánh đèn màu và khói mù mịt của những chốn ăn chơi sang trọng đấy triết lý nhân sinh, sự phản biện xã hội..tiếng nói của quyền phụ nữ.


Quán Tương Tư

Hôm nay không có trăng
Quán không đèn lặng lẽ
Rượu trơ bình thoảng nhẹ
Chút hương thừa dư âm



Ta có thể dự cảm được bước đi của thời gian đang trôi .. Góc thầm trong đêm thoang thoảng hương rượu mà có lẽ nàng vừa đi bay ở Bar về do quán cúp điện ..khẳng định là nàng chưa say..chút dư âm còn sót lại chỉ đủu hồng đôi má mơn phớt.

Bụng cồn cào đói lã
Miệng chẳng thiết ăn gì
Co ro nằm một góc
Đếm thời gian qua đi...



Sự rung cảm tinh tế của bao tử , của cả bờ môi xinh đang dục giã đòi hỏi ? Hay đó là một chút "xôn xao", một thoáng nhớ nhung nhưng da diết đến nao lòng của một tâm hồn ăn uống đang thét gào?
Ai thương ta thời nhỉ?
Khi ta chẳng thương mình
Áo quần, giày, túi... đẹp
Vì ai mà tươi xinh?

Phấn son nằm một góc
Trông cũng lắm sắc màu
Điểm trang cho ai ngắm?
Lại biếng lười chẳng lau...

Đọc đến đây tôi chực muốn khóc rồi vù xe thật nhanh dù 3 trời bốn bể cũng ráng mua đồ ăn cho nàng .Quần là áo lượt
xinh đẹp là thế có lẽ điện thoại chưa đóng tiền nên không gọi được gà KFC mà nàng ưa ăn vặt.

Tấm gương soi nhàu nhĩ
Phản vóc quen... gầy gò
Đôi mắt dường vô cảm
Cũng thấy mình... hay ho...


Câu thơ như rũ bỏ, hay sự quên của trí nhớ. Không có bây giờ và cũng không nhớ cả ngày xưa nữa ư? Không phải! Vẫn nhớ đó chứ! Nhưng lại nhớ rằng mình đã mất đi rồi những dự cảm tinh tế sâu sắc khi không ngắm hình hài mình trong gương chẳng qua nàng cố gắng quên rằng mình rất xinh..thế thôi nhưng cố mấy cũng không thể phản bội chiếc gương trung thực..Thực sự nàng rất ..hay ho..


Người ta không thể sống bằng kỉ niệm. Lúc ấy ta chỉ là một con người hoài cổ, đứng trên nó và sống với nó cũ kĩ và lạc lõng. Ta trôi trong dòng chảy của thời gian mà sống với một dòng chảy tưởng tượng. Ta sống ảo, nghĩa là ta yêu ảo, nghĩa là ta không tồn tại trong mắt mọi người và ngay cả trong ý thức đâu đó còn sót lại của ta. Nhưng cớ sao tình yêu chưa bao giờ thốt những lời tõ tình chưa trao..chỉ qua thơ và ảnh lại bùng cháy trong tôi ngọn lửa tình yêu mãnh liệt đến mức nửa đêm tôi rú lên như Siu Black ..
"Cháy lên đi lửa trên cao nguyên..Bùng cháy trong ta tình yêu Cao Nguyên''
Nhân tiện tôi xin thưa với các bạn là mẹ sanh cha đặt cúng cơm tôi tên Cao Nguyên
Vâng tôi yêu nàng và cả thơ của nàng một cách da diết.

Trở ngược lại với tình thu. Mùa Thu là vạch nối, là bến đợi, bến đỗ của những chuyến đi xa, là vạch nối nghĩa là quan trọng, là bến đợi nghĩa là có thời gian, là bến đỗ nghĩa là khắc đậm trong kí ức. Nhưng "em không còn thấy nhớ". Đây không còn là cái quên của vô thức mà là của tâm thức. Và cũng không đơn giản là quên mà đã đánh mất ý thức nhớ tự nhiên và bắt buộc. Không tồn tại khát vọng ở đây nữa! nàng cố quên đi dĩ vãng buồn và viết lên nền trời một áng thơ mà chả bút mực nào có thể lột tả.


Giá như đừng gặp nữa
Ngày xưa... yên ngủ rồi
Mảnh tình vay tạm bợ
Không trở mình lên ngôi...


Thu năm nay buồn hơn Thu năm trước
Vắng người quen, không sắc đỏ hoa hồng
Lối cũ chẳng còn ai đưa đón nữa
Mỗi cuối tuần không khách để chờ mong

Ta – có lẽ tình trao hương hoa Cúc
Chỉ thoáng qua rực rỡ một mùa vui
Ngơ ngác chẳng hay mùa sang rất vội
Gom xác hoa đong ký ức ngậm ngùi…

Ai cách biệt không một lời từ giã
Tỉnh giấc ra dường tất cả là mơ
Quá khứ thể chưa một lần hiện hữu
Mộng - tìm đâu ra lối hẹn, ngày chờ...

Thu mấy độ, sắc hoa vàng mấy độ
Điểm màu Thu, đâu chỉ Cúc và ta
Bao chốn khác, bấy loài hoa cám dỗ
Ắt người xưa – duyên mới cũng đậm đà…

Nay phố lạ ta và người gặp gỡ
Chẳng tình nhân xao động một tình thân
Đông quá nửa chẳng còn hương hoa cúc
Vọng về nhau... cho hết đoạn đường trần…

Tình vay không trọn vẹn
Vốn từ khi khởi đầu
Một thuyền hai bến đỗ
Hờn gởi về nơi đâu?!…


HTST

Bài thơ lột tả sự nhớ nhung da diết .. tiếng lòng của thơ ca .Thơ pha trộn sự nóng bỏng của một cô gái đang yêu và sự tinh tế đến từng sợi tơ mượt mà mang hình con chữ.Cuộc sống sẽ là vô nghĩa nếu ta thiếu tình yêu, sự tinh tế, lòng nhân ái đối với thế giới xung quanh. Cái yếu đuối của thơ cũng chứa đựng sức mạnh của con người, đó là khát vọng. Tình cảm mềm yếu, sâu sắc nhưng lý tưởng rõ ràng, bền vững. Dám yêu dám hận . Nàng đã phát họa hình hài mùa thu đẹp đến ngơ ngơ tâm hồn tối, đến độ tôi phải đi nhặt lá, đá ông bơ hết cả tuần mới tỉnh được đôi chút để viết những dòng này.

Đỉnh điểm của tình luôn là sự mâu thuẩn.. Nàng đẹp đến thế cơ mà ..thế nhưng lại có thằng Khùng bá vơ nào lòi mắt không nhìn ra ( khúc này em quá khích vì Hựn) vẻ đẹp mong manh sương khói của nàng mà lại đi yêu một loài hoa ăn đêm đầy cám dỗ của bọn ca_ve .( em xin lỗi mấy chị ca_ve)

Túm lại chỉ bấy nhiêu cũng đủ để làng thi ca Việt tôn thờ hoathuongsitinh .Thơ đã biến nàng trở thành thi nhân của Việt Nam đương đại
Công việc của nàng là sáng tác... Người nghệ sĩ ấy luôn đi tìm cái đẹp trong những khám phá mới, và ta đi tìm cái đẹp trong người nghệ sĩ ấy.
Vâng tôi đã tìm ra vẻ đẹp của nàng và đã yêu ..Yêu trong tâm tưởng và trong cả một giấc mơ sinh tình .



Tây Ngạo Nhảm Kính Phiếm